Được xây dựng từ thế kỷ 18, đình Ứng Hòa là nơi phụng thờ đức Đông Hải Đại vương – một danh tướng lừng lẫy thời Hùng Duệ Vương có công lớn trong việc dẹp giặc Thục.
Theo cuốn ngọc phả cho biết: Thời ấy, ở bộ Ai Lao có người họ Thục tên Phán, cùng dòng hoàng diệp với triều Hùng, ngầm chỉnh đốn binh sĩ, giả danh tuần phòng các đạo tiến đến chiếm đóng biên cương. Nhà vua rất lo lắng, bèn triệu Sơn Thánh vào triều tiếp kiến và giao binh quyền cho ông. Sơn Thánh sai binh sĩ phô trương thanh thế, chặn các đường giặc đến, giao chiến trận đầu bất phân thắng bại, ngài thu binh về và kén chọn hơn 50 trai tráng trong trang làm gia thần. Ít lâu sau, ngài lại giao chiến với quân giặc, trận này quân giặc thất thủ thây chất thành núi, chiến lợi phẩm thu được mhiều không kể xiết. Sau khi thắng trận, ngài trở về tế lễ trời đất, cha mẹ, thiết lập hành cung sống cùng với nhân dân. Ngài lại tấu lên vua lấy nơi đây làm nơi thờ cúng, nghìn năm hương hoả.
Đình Ứng Hoà dựng trên khu đất cao ở trung tâm của làng, trông về hướng tây nam, phía trước đình có hồ nước rộng, cây xanh mướt toả bóng mát in xuống hồ nước. Ngôi đình được làm theo kiểu kiến trúc chữ "vi" với các hạng mục chính gồm: Nghi môn, Đại bái, Hậu cung và Tả hữu mạc. Nghi môn làm theo kiểu ba lối đi, một lối đi chính và hai lối đi nhỏ.
Đại bái làm theo kiểu tường hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri, bờ nóc bờ chảy đắp bờ đinh, hai đầu bờ nóc đắp hai đấu đinh, cuối bờ chảy xây giật cấp bằng vôi vữa. Vào bên trong, tương ứng với ba gian là bốn bộ vì đỡ mái được làm thống nhất theo kiểu "thượng giá chiêng chồng rường hạ cốn, bẩy". Kiến trúc toà Đại bái đình được làm tương đối cầu kỳ thể hiện qua các mảng chạm trên các bộ vì với kỹ thuật tinh xảo theo cách chạm lộng, chạm bong kênh.
Hậu cung đình là ba gian nhà ngang, phần trước làm hai tầng mái, bờ nóc đắp bờ đinh, giữa bờ nóc đắp mặt trời, cuối bờ dải xây giật cấp. Phần chồng diêm, ở cổ diêm nối giữa mái một và mái hai, chính giữa đắp bốn chữ Hán. Hai bên được đắp tứ linh long ly quy phượng. Vào bên trong, Hậu cung được chia thành hai phần làm theo kiểu "nội tự ngoại khách". Từ phần hiên, bước qua ngưỡng cửa là cung cấm. Kiến trúc phần cung cấm được làm đơn giản gồm "Giá chiêng chồng rường, hạ rường nách". Đình còn bảo lưu được nhiều di vật quý với chất liệu khác nhau có niên đại trải dài từ thế kỷ thứ XIX.
Với những giá trị lịch sử văn hóa to lớn, ngày 14/11/2006, đình đã được UBND tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) xếp hạng Di tích lịch sử cấp Thành phố.
Một số hình ảnh lễ hội truyền thống Đình Ứng Hòa (Ảnh tư liệu)
Cứ 3 đến 5 năm một lần, từ ngày mùng 5 đến hết mùng 7 tháng 3 Âm lịch, người dân Ứng Hòa lại rộn ràng mở hội đình. Đây không chỉ là dịp để dân làng tưởng nhớ ngày sinh (06/02 Âm lịch) và ngày hóa (07/07 Âm lịch) của đức thánh, mà còn là ngày hội đoàn kết của tình làng nghĩa xóm.
Lễ hội đình Ứng Hòa được tổ chức trang trọng với hai phần chính:
Phần lễ: Bao gồm các nghi thức tế lễ uy nghiêm và lễ rước kiệu truyền thống. Những đoàn rước rực rỡ sắc màu, vang vọng tiếng trống, tiếng chiêng tạo nên một không khí linh thiêng, gắn kết thế hệ trẻ với truyền thống cha ông.
Phần hội: Là không gian sôi động của các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa văn nghệ và thi đấu thể dục thể thao. Những hoạt động này không chỉ mang lại niềm vui mà còn bồi đắp lòng tự hào về bản sắc văn hóa địa phương cho mỗi người dân và du khách thập phương.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đình Ứng Hòa vẫn đứng vững như một chứng nhân cho sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn là niềm vinh dự của mỗi người dân nơi đây.
Đến với đình Ứng Hòa hôm nay, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc đẹp mà còn cảm nhận được hơi thở của lịch sử, sự ấm áp của tín ngưỡng cộng đồng. Ngôi đình mãi là niềm tự hào, là "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ mai sau.